lộn xộn miễn dịch được cho là Yếu tố chính gây nên chứng bệnh vẩy nến. tăng cường vào đó, Tác nhân di lây , lây nhiễm vi khuẩn , căng thẳng... cũng khiến bệnh lý khởi phát, tái phát hoặc trầm trọng thêm .
dấu hiệu của bệnh vảy nến là hiện diện những vẩy như nến, có thể đóng vảy thành từng lớp, hay nổi dát đỏ hình giống giọt nước, hay bầu dục, đường kính 2 5cm, có khi thành mảng rộng do nhiều dát kết hợp lại, phủ lên trên là nhiều lớp vảy màu trắng bạc, dễ bong, nếu cạo ra sẽ nhìn thấy rướm máu lấm tấm, có lẫn cả tiết dịch bên trong (giống như một số giọt sương li ti). hội chứng ở giai đoạn nghiêm trọng trong trường hợp da toàn thân đỏ, sưng, tróc vảy, kèm phát sốt, một số khớp đau, lòng bàn chân sừng hoá, móng dày lên và rụng.
Thông hay , việc trị vảy nến ở mặt hay
vay nen da dau được tuân thủ theo các phương hướng như: sử dụng thuốc uống, thuốc bôi ngoài làn da và quang hóa trị liệu. một số thuốc giúp lột sừng, tiêu sừng đem lại hiệu nghiệm cho căn bệnh nhân như: acid salicylic, AHA, các dẫn xuất của retinoid, ure, hắc ín, dầu Cade... Thuốc bôi có chứa một số chất corticoid giúp thuyên giảm nhanh hội chứng ngứa, đỏ. Hầu như tất cả những chủng thuốc, từ cổ điển (asen, bismut, DDS) đến hiện đại (kháng sinh, cyclosporin, interferon, interleukin...) đều đã được dùng để trị bệnh vảy nến . tuy vậy , chúng chỉ đem lại hiệu nghiệm không bền vững, chứng bệnh dễ tái nhiễm . Việc chữa da bị vảy nến bằng quang hóa điều trị liệu (PUVA), hiệu quả có thể đạt 8090%, nhưng tỷ lệ tái nhiễm lên đến 40% hoặc hơn… Mặt khác, tất cả một vài phương hướng điều trị trên đều có thể gây ra tác dụng phụ như: Tổn thương gan, thận, máu, lộn xộn miễn dịch, ung thư da ...Nhất là điều trị vảy nến da đầu bằng corticoid thân thể hội chứng bệnh phải hết sức thận trọng.
điều trị toàn thân bằng một vài thuốc vitamin A axit (soriatane), methotrexat, cyclosporin A. các thuốc này có hiệu quả nhưng cũng có nhiều tác dụng phụ như: có thể gây ra quái thai nhi , bất định vai trò gan, thận, giảm bạch cầu...cho nên , phải thận trọng trong trường hợp đề nghị và phải theo dõi nghiêm trong quá trình điều trị . một vài chất sinh học đang đựơc khám phá và sử dụng điều trị căn bệnh vảy nến ở mặt có công hiệu như: etanercept, alefacept, infliximab... các vitamin B12, C từ lâu cũng được sử dụng để điều trị vảy nến móng tay , có lẽ chúng có chức năng nâng cao thể lực và tăng cường sức khỏe của thân thể , hỗ trợ quá trình lành hội chứng bệnh .
Corticoid sử dụng chữa chứng bệnh vảy nến ở mặt :
Corticoid ăn bôi ngoài làn da dùng điều trị vảy nến có nhiều kiểu dưới dạng đơn chất hay phối với hoạt chất khác, như đối với a. salicylic (Diprosalic, Beprosalic) hay đối với calcipotriol (Daivobet). Corticoid bôi ngoài da có thể dùng chữa đột kích bệnh vảy nến . Thuốc có điểm mạnh làm Thương tổn nhanh được cải thiện, hội chứng nhân cảm nhìn thấy dễ chịu, dễ chấp nhận. do thuốc làm giảm viêm , giảm đỏ và giảm bong vảy da nhanh. Nhưng sự cải thiện này duy trì không bền. Mặt khác sau khi đoạn tuyệt thuốc căn bệnh sớm bùng phát trở lại, trong trường hợp đó ăn lại corticoid gặp ở chỗ sẽ không thấy có kết quả . Nhiều tình huống sử dụng corticoid gặp tại chỗ kéo dài nhìn ra hiện diện Tổn thương viêm nhiễm làn da như mụn mủ, viêm nang lông; lan truyền nấm; mọc lông; giãn mạch và teo làn da ; đặc biệt ở các vùng da mỡ (mặt, ngực, lưng) nhìn ra góp mặt nhiều mụn trứng cá. sử dụng corticoid bôi ngoài làn da kéo dài sẽ nhìn thấy Thương tổn không đáp ứng với thuốc, chứng bệnh không giảm, thậm trí còn tiến triển trầm trọng bổ xung .
Corticoid bằng đường toàn thân chỉ nên dùng chữa bệnh bệnh vảy nến nặng và khi thật sự cần thiết (vảy nến da đầu khớp, da bị vảy nến thể mủ toàn thân). Cần phải cân nhắc kỹ lợi/hại trước trong trường hợp đề nghị và phải tính toán liều lượng dùng cơ bản thấp nhất có hiệu quả để có khả năng rút gắn được quá trình giảm liều và dừng