







![]() |
![]() |
|
|||||||
![]() |
![]() |
|
|
Công cụ bài viết | Kiểu hiển thị |
![]() |
![]() |
|
#7
|
|||
|
|||
|
Kaka, đội khi tin tưởng vào công cụ hỗ trợ thì chết thiệt; do thấy em 164 quá ư chi tiết tưởng là sẽ vẫn áp dụng khi chưa có cái nào hử nó nhưng cần phải xâu chuỗi sự kiện lại thì mới phát hiện ra. Cám ơn anh Tiến.
- Cái công văn này chỉ nói rõ hơn vấn đề mà thôi, chứ xét về giá trị pháp lý thì nó làm sao đủ độ lớn treo ông NĐ. Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có hiệu lực pháp luật dẫn đến việc hết hiệu lực pháp luật của một loạt văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, tự nhiên loại bỏ hiệu lực pháp lý của NĐ 164 rồi. - Theo khoản 6 Điều 101 quy định về Bán tài sản đã kê biên của Luật Thi hành án dân sự 2008 thì: “Thủ tục bán đấu giá được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.” Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã cho phép áp dụng các quy định về thông báo bán đấu giá tài sản nói chung cho việc bán đấu giá tài sản đã kê biên để thi hành án (bao gồm cả ). Vậy sẽ phải áp dụng ông NĐ 17/2010 cho cả ông quyền sử dụng đất. - NĐ 17 không nêu thủ tục kê biên vì trong Luật nói đến cái này rồi mà, ông NĐ 17 chỉ ấn tượng thêm về việc thông báo. - Xin lỗi chủ topic vì không xem xét kỹ, việc định giá sẽ theo quy định sau của Luật thi hành án dân sự Điều 98. Định giá tài sản kê biên 1. Ngay khi kê biên tài sản mà đương sự thoả thuận được về giá tài sản hoặc về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên lập biên bản về thỏa thuận đó. Giá tài sản do đương sự thoả thuận là giá khởi điểm để bán đấu giá. Trường hợp đương sự có thoả thuận về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá đó. 2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên tài sản, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây: a) Đương sự không thoả thuận được về giá và không thoả thuận được việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá; b) Tổ chức thẩm định giá do đương sự lựa chọn từ chối việc ký hợp đồng dịch vụ; c) Thi hành phần bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này. 3. Chấp hành viên xác định giá trong các trường hợp sau đây: a) Không thực hiện được việc ký hợp đồng dịch vụ quy định tại khoản 2 Điều này; b) Tài sản kê biên thuộc loại tươi sống, mau hỏng hoặc có giá trị nhỏ mà đương sự không thoả thuận được với nhau về giá. Chính phủ quy định về tài sản có giá trị nhỏ. [heo NĐ 58/2009 NĐ-CP ngày 13 tháng 7 năm 2009 Điều 15. Xác định giá đối với tài sản kê biên 1. Chấp hành viên xác định giá đối với tài sản kê biên có giá trị nhỏ là tài sản mà tại thời điểm xác định giá, sản phẩm cùng loại chưa qua sử dụng có giá bán trên thị trường không quá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). 2. Trường hợp do không ký được hợp đồng dịch vụ quy định tại điểm a khoản 3 điều 98 Luật Thi hành án dân sự, Chấp hành viên tham khảo ý kiến của cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn có liên quan trước khi xác định giá của tài sản kê biên. ] Điều 99. Định giá lại tài sản kê biên 1. Việc định giá lại tài sản kê biên được thực hiện trong các trường hợp sau đây: a) Chấp hành viên có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản; b) Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản. 2. Việc định giá lại tài sản kê biên được thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 98 của Luật này. Do hướng dẫn còn rất ư chung chung, nên nếu thấy giá xác định không đúng bạn có thể sử dụng quyền định lại giá tài sản kê biên trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản (không hạn chế số lần yêu cầu định lại giá). |
![]() |
![]() |
| Công cụ bài viết | |
| Kiểu hiển thị | |
|
|
| Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 02:44 PM |



