Phần 2.
Nung đỏ dao, tự mình chặt cả bàn tay
Gánh đủ đá, chị đào đất đóng gạch. Đôi tay đàn bà mềm yếu ấy đập đá, nhồi đất dẻo dai như tay lực điền. Nhưng một ngày nọ, chị bỗng thấy những ngón tay của mình ngắn lại, mòn đi, nhiễm trùng đang hoại tử. Những ngón tay phải đập đá, đào đất quá nhiều, đã lâm "trọng bệnh”.
Lúc đó, vì chưa có hộ khẩu nên không được vào bệnh viện, chẳng còn cách nào khác, chị bỗng nghĩ ra một kiểu “điều trị” khủng khiếp: nung đỏ con dao sắt, kê ngón tay lên viên gạch và nghiến răng chặt!
Khi ngón tay đã đứt lìa, nhọ nồi hoà với vôi đã được chuẩn bị sẵn, chị run rẩy bôi vào vết chặt. Choáng váng, chị ngất đi vì đau. 1 ngón tay, 2 ngón tay, 4, 5 ngón tay... lần lượt lìa khỏi bàn tay chị theo cách “trung cổ” đó. Bàn tay trái chặt ngón tay phải, bàn tay phải chặt ngón tay trái. Cho đến khi không còn ngón tay để cầm dao nữa! Mỗi ngón tay bị chặt lìa là một lần chị ngất lịm.
Tôi rùng mình khi hình dung ngón tay đứt lìa, vôi trộn bồ hóng bôi vào vết chặt còn đầy máu ấy. Bất giác tôi nhìn sang đôi bàn tay cụt ngón của chị, nó đã liền sẹo nhưng vẫn toát lên cái gì đó nhẫn nhịn mà kiên gan.
Hoạ vô đơn chí, sau khi đôi bàn tay cụt hết ngón, dân làng bắt đầu xì xào đồn thổi chị mắc bệnh phong. Rồi cũng chẳng dừng lại ở đồn thổi nữa, một ngày nọ, dân quân đến trói nghiến chị lại, bồng súng giải chị đi bệnh viện như giải một kẻ tội đồ.
Tại bệnh viện, vị bác sỹ già sau khi khám, đã khẳng định chị không mắc bệnh phong. Dẫu có mắc bệnh, chị cũng không nhập viện được vì chưa có hộ khẩu. Người đàn bà đó bị trả về với 10 viên thuốc Tetaxilin giá trị tương đương 10 buổi đi chợ. Nhưng trong mắt của nhiều người, chị vẫn là hủi, và cả hai mẹ con đã “lãnh đủ” sự kỳ thị, xa lánh.
Tú Anh đang học lớp 3 đã bị chúng bạn réo tên gọi: “Đồ con hủi”, thậm chí có kẻ còn doạ giết chết đứa bé ngây thơ này. Điều đó làm chị đau đớn hơn cả lúc cầm dao chặt vào ngón tay mình.
Vẫn túp lều cỏ trên bè chuối, nhưng đôi tay đã cụt ngón, lại phải “gánh” thêm cái tiếng hủi, trong một phút tuyệt vọng chị viết một bức thư tuyệt mệnh gửi mẹ dặn: “Con chết rồi, mẹ gửi Tú Anh vào trại mồ côi, đừng đưa nó về với bố nó”.
Chị đi ra bãi sông Thái Hạc tự tử. Lúc đang chấp chới trong dòng nước thì ông lão thuyền chài đã nhanh tay kéo chị lên. Sau khi nghe rõ sự tình, ông lão bảo: “Ta sẽ cho con 1000 đồng để con có chút vốn làm ăn. (1000 đồng lúc đó tương đương 1 tạ gạo). Đừng bao giờ nghĩ đến tìm đến cái chết nữa. Sống khó, chết dễ lắm, vô nghĩa lắm”.
Từ bến sông về nhà, chị phải nghỉ 8 lần, niềm tin vào cuộc đời, tình người tưởng như đã tắt ngấm trong chị, nay được ông lão thuyền chài thắp lên, bừng sáng.
Về nhà, chị đưa Tú Anh lên Nam Định học để tránh đi sự xa lánh của bạn bè. Chiều chiều cậu bé học xong lại đứng ở góc chợ đợi mẹ, đêm thật khuya hai mẹ con mới dám về túp lều, rón rén như người mang tội. Thế rồi, trong đêm khuya khoắt, đôi bàn tay cụt ngón của chị lại tiếp tục đập đá, nhồi đất đóng gạch. Như có phép lạ, trong vòng mấy năm với đôi tay tật nguyền ấy, chị đã đóng được 16 vạn gạch mộc!
Không đủ tiến mua than, chị bán gạch mộc cho người ta, chỉ để lại 4 vạn viên, thuê người nung, xây móng, xây tường nhà, còn mái nhà thì phải chờ đến lúc có tiền mới đổ. Ngôi nhà đang dang dở thì chị ốm một trận “thập tử nhất sinh”.
Những năm tháng dằng dặc bị đoạ đày, ăn đói, mặc rét, làm việc quá sức khiến chị bị liệt nửa người. Chỉ duy nhất đàn gà đáng giá, Tú Anh cắp hai con to nhất, năn nỉ người xích lô chở mẹ vào bệnh viện cấp cứu. Người ta nghĩ rằng chị sẽ chết, bàn cách khi chôn phải rắc thật nhiều vôi bột để trừ tận gốc bệnh phong.
Vùng vẫy trong vô thức, người đàn bà đó muốn thét thật to: Tôi còn sống, tôi muốn sống! Chẳng biết ông trời có thấu tỏ hay không mà sau 4 tháng vật vã với bệnh tật, chị đã dần khoẻ lại.
Đục một cái lỗ dưới nền nhà, chị rang lạc, rang ngô cho Tú Anh đi bán ở các rạp hát, bến thuyền. Hôm nào hàng ế, hai mẹ con ăn ngô, lạc trừ bữa. Tú Anh chỉ có duy nhất một bộ quần áo, ban đêm về túp lều phải ở truồng cho mẹ giặt, phơi khô để ngày mai mặc tiếp.
Chị cũng chẳng hơn gì, đêm cũng đành “vận” một bộ đồ rách như tổ đỉa. May thay, trong lúc bi đát đó, chị mua chịu được một đôi lợn. Đôi lợn được coi như “vật cứu tinh” của 2 mẹ con, nhưng đến lúc xuất chuồng, rao bán lại không ai thèm mua “lợn của hủi”.
Chị phải gọi người ở xa đến bắt vào ban đêm, chịu thiệt với giá bán rẻ bằng một nửa giá bình thường. Có tiền, lại mua đôi lợn khác, vừa vỗ thịt vừa chăm lợn nái đẻ. Cứ thế, đàn lợn ngày một sinh sôi.
Chị tát ao, lội xuống bùn ngang ngực, cấy lúa, còn trên bờ trồng rau muống. Lúa tốt bời bời, một số người trước đây coi khinh chị là “hủi” giờ lại đến vay thóc về ăn.
Nhưng niềm vui không gì so sánh được của người đàn bà ấy là đứa con trai duy nhất học rất giỏi và thi đậu vào trường ĐH Kinh tế Quốc dân. Sóng gió tưởng như đã qua bỗng dưng lại ập tới: Năm thứ 2 đại học, Tú Anh bị thiếu ôxy não, sinh độc tố trong máu. Chị lại đưa con trai đi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác để chạy chữa.
Ròng rã 9 tháng trời, bao nhiêu tài sản vừa được gây dựng đã tan theo bước chân của 2 mẹ con từ Bắc vào Nam. Ngày Tú Anh khỏi bệnh, số nợ của chị lên tới 73 triệu đồng.
Nhưng kể từ khi được ông lái đò cứu mạng, chưa một lần người đàn bà ấy tuyệt vọng, trở về với “máng lợn”, chị lại nuôi lợn thả cá, làm vườn, một mình con tiếp tục ăn học và chăm sóc mẹ già.
Vào những năm 1992 - 1993, trong chuồng nhà chị có tới 75 con lợn, một ao cá và 4 sào ruộng. Vẫn đôi bàn tay cụt ngón ấy làm tất cả mọi việc: băm bèo, nấu cám, cuốc đất...
Có vốn, chị đi buôn vàng, bất động sản, kiến thức của một người từng tốt nghiệp ĐH Tài chính Kế toán khoá đầu giúp chị thành công trong nhiều thương vụ. Ông trời có vẻ như đã mủi lòng trước người đàn bà có sức sống kỳ lạ này, Tú Anh ra trường, đi làm, lấy vợ sinh con.
Hạnh phúc bên bờ ao nhà mình
Xã Hoàng Diệu thuần nông của thành phố Thái Bình bỗng mọc lên một ngôi biệt thự hiếm hoi. Tuy biệt thự đang xây nhưng người ta đã đặt câu hỏi: Của ai? Của một Việt kiều, một giám đốc, một đại gia nào chăng? Rồi người ta ngớ ra: biệt thự của Hằng “hủi”, người đàn bà từng gánh con ra chợ cầm nợ để đổi lấy ít rau dưa bán kiếm ít tiền sống qua ngày.
Biệt thự nằm bên bờ ao, gần túp lều rách nát dựng trên bè chuối ngày xưa. Chị cười rạng rỡ, nói với tôi: “Tôi định không làm ngôi nhà này đâu, nhưng cuối đời mình cũng có một nơi ở rộng rãi để đón bạn bè tới thăm. Ngôi nhà này có một ít tiền của tỉnh Thái Bình góp vào để xây nhà tình nghĩa cho mẹ tôi. Mẹ tôi năm nay tròn 100 tuổi. Tôi là con liệt sỹ, nhưng bao năm bị đoạ đày, có ai nhớ đến đâu”.
Chị Diễm, vợ của Tú Anh đang chơi với hai đứa trẻ đẹp như thiên thần ở ngoài sân. Một thời, hai vợ chồng làm ăn khó khăn, chính chị Hằng đã động viên con dâu đi học ĐH Sư phạm Thái Nguyên, để giờ đây Diễm đã là cô giáo. Còn Tú Anh trở thành Giám đốc một Cty TNHH làm ăn phát đạt.
Dù đã khá giả, nhưng chị vẫn tự tay băm bèo chăn lợn, không thuê người làm, khu ao rộng 1000 m2 được kè bờ xi măng, thả cá trê, baba. Rau trái đầy vườn, mùa nào thức ấy, không tấc đất nào bị bỏ hoang.
Chị nói với tôi rằng sau khi ngôi biệt thự hoàn thành chị sẽ đi làm từ thiện, sẽ cưu mang những đứa trẻ thơ mồ côi, lang thang cơ nhỡ, phải bán lạc rang, nằm bao tải như Tú Anh ngày xưa. Chị sáng tác nhiều thơ, những bài thơ thấm đẫm tình người, tình đời và luôn kết thúc có hậu.
Ra về tôi nắm chặt bàn tay của người đàn bà ấy. Đôi tay cụt ngón đã tự mình viết nên một câu chuyện cổ tích tuyệt đẹp.
Phùng Nguyên
Theo Tiền Phong - 18/06/2005
Đọc để ngẫm nghĩ về số phận của một con người...