Chào bạn.
Theo thông tin bạn trình bày thì hiện tại có 02 quan hệ tranh chấp trong gia đình của bạn là tranh chấp về thừa kế giữa các anh chị em và tranh chấp về tài sản chung giữa vợ và chồng.
1/. Tranh chấp về thừa kế:
Theo thông tin bạn nêu thì quyền sử dụng đất do mẹ bạn đứng tên quyền sử dụng là đất được nhà nước giao cho hộ gia đình. các thành viên có tên trong hộ khẩu gia đình đều là đồng sở hữu quyền sử dụng đất. Điều 113 Luật đất đai năm 2003 có quy định: "Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê có các quyền và nghĩa vụ sau đây:...5. Cá nhân có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật. Hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật...". Tuy nhiên, xét về thời hiệu khởi kiện về thừa kế thì đến nay đã hết thời hiệu khởi kiện. Do đó, nếu có cô của bạn có khởi kiện yêu cầu phân chia thừa kế sẽ không được tòa án thụ lý giải quyết.
2/. Tranh chấp về tài sản chung giữa vợ và chồng
Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình quy định:
"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung".
Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình có quy định
"Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
1. Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.
2. Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận."
Như vậy, tranh chấp giữa cha mẹ bạn là tranh chấp tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, cha mẹ bạn có thể tự thỏa thuận phân chia hoặc nhờ Tòa án giải quyết.
Thân chào bạn.
Hoàng Ngân
Email:
ngan.vo@vietnamlawfirm.com.vn