PDA

View Full Version : Giải quyết tình huống hôn nhân gia đình


aulachongvn
28-07-2012, 11:03 AM
Bà B kết hôn với ông A năm 1990, nhưng họ không có con, năm 2000 họ nhận một đứa con nuôi là M được pháp luật thừa nhận. Năm 2001 ông A có chuyến công tác đến tỉnh H, qua quá trình tìm hiểu ông A đã kết hôn với cô P, Ủy ban nhân dân quận Y tỉnh H đã đăng kí kết hôn cho 2 người, ông A đã nói rõ lý do không có con nên đã ly hôn với bà B. Năm 2002 thì ông A và cô P đã có con gái tên là D.Năm 2003 bà B biết được câu chuyện của ông A và cô P, bà B đã yêu cầu ông A đưa con gái về nuôi. Cô P không đồng ý vì cho rằng ông A và cô P được đăng ký hợp pháp. Bà B đã gửi đơn kiện cô P vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng đến tòa án quận Y tỉnh H để giải quyết. Tòa án đã thụ lý đơn. Ngày 22/10/2003 ôg A bị tai nạn, biết minh không qua khỏi ông A di chúc miệng trước nhiều người làm chứng là để lại toàn bộ tài sản của mình cho đứa con gái tên là D. Sau khi ông A qua đời bà B kiện yêu cầu tòa án không chia tài sản cho D. Biết tài sản của A và B được định giá là 1.200.000.000VND.

inexim-iec
28-07-2012, 11:03 AM
anh ơi nếu muốn sửa tiêu đề của em thì phải làm thế nào ạ. anh giúp em với , em xin cảm ơn ha :-S

tritinh
28-07-2012, 11:03 AM
Lần này giúp bạn, nhưng lần sau sẽ không được tái phạm nữa đâu nhé.! Cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi lên diễn đàn. chúng tôi sẽ nghiên cứu và có câu trả lời sớm nhất cho bạn

thanhbvp
28-07-2012, 11:03 AM
mình xin giải quyết tình huống này như sau :

- Ông A và Bà B đã kết hôn => Hôn nhân hợp pháp
- Ông A và Cô P ,vì một lý do nào đó được tỉnh Y cho phép kết hôn là vi phạm phạm luật vì tại thời điểm đó Ông A đã có kết hôn với bà B .=> hôn nhân không hợp pháp .
Điều 10 của luật HN & GD


- Ông A và Cô P có con là D ,bà B biết và đòi nuôi D ,Cô P không đồng ý vì cho rằng ông A và cô P được đăng ký hợp pháp. Bà B đã gửi đơn kiện cô P vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng đến tòa án quận Y tỉnh H để giải quyết .Tòa thụ lý hồ sơ là đúng pháp luật và thẩm quyền theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự .

- Ngày 22/10/2003 ôg A bị tai nạn, biết minh không qua khỏi ông A di chúc miệng trước nhiều người làm chứng là để lại toàn bộ tài sản của mình cho đứa con gái tên là D .Ông A có quyền di chúc miệng và di chúc đó hợp phápkhi thỏa các điều kiện theo các điều 649 ,651 ,652 của BLDS .


- Bà B kiện đòi yêu cầu không chia tài sản cho cô D là sai vì cô D là con của ông A ,cho dù Ông A có để lại di chúc hay không thì cô D vẫn được quyền thừa kế để lại của Ông A ( vì con trong giá thú cũng như con ngoài giá thú ,con nuôi ) .
*Chia tài sản :
- Tài sản của Ông A ở đây được xác định là :1ty 200tr :2 = 600tr .
Có các trường hợp xảy ra sau đây .
1.Di chúc của Ông A được coi là không hợp pháp
Lúc này tài sản của công A sẽ được chia thừa kế theo pháp luật .
tức bà B ,D,M(con nuôi ) mỗi người hưởng 1 phần:600tr:3=200tr

2. Di chúc của Ông A được coi là hợp pháp

thì áp dụng điều 669

cũng cần chia ra các trường hợp sau:
a.M chưa đủ tuổi thành niên hoặc không có khả năng lao động thì tài sản của ông A sẽ được chia như sau :
Bà B được nhận ít hơn 2/3 x200tr = 133tr
M được nhận ít hơn 2/3 x200tr = 133tr
D được nhận 600tr - 266tr = 334tr.
b.M đủ tuổi thành niên và đủ khả năng lao động thì tài sản của ông A sẽ được chia như sau :
Bà B được nhận ít hơn 2/3 x200tr = 133 tr
M sẽ không nhận được thừa kế
D được nhận 600tr -133tr = 467tr .
:D

tamexim
28-07-2012, 11:03 AM
em cảm ơn mọi người nhìu nhìu ha. Tại em vừa tham gia nên chưa hiểu rõ những vấn đề trong diễn đàn.Mong mọi người giúp em ha.:">he he:

hlco
28-07-2012, 11:03 AM
Trước tiên em xin cảm ơn mọi người vì đã đặt câu hỏi và đã giải quyết tình huống để sinh viên chúng em có thể áp dụng vào thực tế.
Sau khi đọc xong bài giải uyết như trên, em có thắc mắc thế này
- Căn cứ vào đâu để chia đôi tài sản của ông A khi phân chia tài sản
- Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó...Theo hướng giải quyết như trên thì nếu M là chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất khả năng lao động thì sẽ được ít hơn hai phần ba số di sản của 1 người thừa kế theo pháp luật. Vậy mọi người có thể giải thích giúp em, tại sao lại ít hơn 2/3 mà ko phải là bằng được không ạ?

tamexim
28-07-2012, 11:03 AM
Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động


Những người trên sẽ được = 2/ 3 suất của một người thừa kế theo pháp luật. Trong trương hợp:
+ Những người này k được người lập di chúc cho hưởng di sản.
+ Người lập di chúc cho hưởng di sản nhưng < 2/3 suất của người thừa kế theo pháp luật.(Trừ khi họ từ chốinhaanj di sản hoặc họ là những người k có quyền hưởng di sản theo khoản 1 điều 643.
* Tài sản của ông A chia thành 2 vì một nửa là của bà B .

bef34
28-07-2012, 11:03 AM
Trả lời nè:::::65::65:


- Ông A và Bà B đã kết hôn => Hôn nhân hợp pháp
- Ông A và Cô P ,vì một lý do nào đó được tỉnh Y cho phép kết hôn là vi phạm phạm luật vì tại thời điểm đó Ông A đã có kết hôn với bà B .=> hôn nhân không hợp pháp .
Điều 10 của luật HN & GD
Điều 10. Những trường hợp cấm kết hôn

Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây:

1. Người đang có vợ hoặc có chồng;

2. Người mất năng lực hành vi dân sự;

3. Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

4. Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

5. Giữa những người cùng giới tính.

- Ông A và Cô P có con là D ,bà B biết và đòi nuôi D ,Cô P không đồng ý vì cho rằng ông A và cô P được đăng ký hợp pháp. Bà B đã gửi đơn kiện cô P vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng đến tòa án quận Y tỉnh H để giải quyết .Tòa thụ lý hồ sơ là đúng pháp luật và thẩm quyền theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự .

- Ngày 22/10/2003 ôg A bị tai nạn, biết minh không qua khỏi ông A di chúc miệng trước nhiều người làm chứng là để lại toàn bộ tài sản của mình cho đứa con gái tên là D .Ông A có quyền di chúc miệng và di chúc đó hợp phápkhi thỏa các điều kiện theo các điều 649 ,651 ,652 của BLDS .

Điều 649.Hình thức của di chúc
Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.
Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình.

Điều 651. Di chúc miệng
1. Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.
2. Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ

Điều 652. Di chúc hợp pháp
1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;
b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.
2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

- Bà B kiện đòi yêu cầu không chia tài sản cho cô D là sai vì cô D là con của ông A ,cho dù Ông A có để lại di chúc hay không thì cô D vẫn được quyền thừa kế để lại của Ông A ( vì con trong giá thú cũng như con ngoài giá thú ,con nuôi ) .
*Chia tài sản :
- Tài sản của Ông A ở đây được xác định là :1ty 200tr :2 = 600tr .
Có các trường hợp xảy ra sau đây .
1.Di chúc của Ông A được coi là không hợp pháp
Lúc này tài sản của công A sẽ được chia thừa kế theo pháp luật .
tức bà B ,D,M(con nuôi ) mỗi người hưởng 1 phần:600tr:3=200tr

2. Di chúc của Ông A được coi là hợp pháp

thì áp dụng điều 669
Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:
1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.

cũng cần chia ra các trường hợp sau:
a.M chưa đủ tuổi thành niên hoặc không có khả năng lao động thì tài sản của ông A sẽ được chia như sau :
Bà B được nhận ít hơn 2/3 x200tr = 133tr
M được nhận ít hơn 2/3 x200tr = 133tr
D được nhận 600tr - 266tr = 334tr.
b.M đủ tuổi thành niên và đủ khả năng lao động thì tài sản của ông A sẽ được chia như sau :
Bà B được nhận ít hơn 2/3 x200tr = 133 tr
M sẽ không nhận được thừa kế
D được nhận 600tr -133tr = 467tr .

:13::13::13::13::13::3::3::3: