PDA

View Full Version : hỏi về luật hôn nhân


cuahangso1
26-07-2012, 04:49 PM
Tôi hiện đang ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi muốn hỏi nếu đi du lịch đến Mỹ hay một nước nào đó ở vùng Đông Nam Á thì có cho đăng ký kết hôn được không ? ( bạn trai tôi hiện đang sống ở Mỹ - quốc tịch Mỹ). Nếu được thì thủ tục hồ sơ giấy tờ phải chuẩn bị như thế nào ? Giấy kết hôn đó có được phía Việt Nam và Mỹ chấp nhận hay không ? Mong nhận được hồi âm

thanhhai
26-07-2012, 04:49 PM
Điều 103 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 quy định: Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn, nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài cũng phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.
* Về thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài:
Theo quy định tại điều 102 Luật Hôn nhân gia đình, điều 3, điều 12 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP, cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn gồm: UBND cấp tỉnh nơi thường trú của công dân Việt Nam, cơ quan đại diện ngoại giao (đại sứ quán, lãnh sứ quán VN) ở nước ngoài, UBND cấp xã nơi khu vực vùng biên giới thực hiện đăng ký kết hôn cho công dân thường trú trong khu vực biên giới kết hôn với công dân nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới.

Như vậy nếu bạn muốn đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì phải căn cứ vào việc bạn có hộ khẩu thường trú tại tỉnh nào thì UBND tỉnh đó sẽ có thẩm quyền thực hiện đăng ký kết hôn cho bạn.
* Về trình tự thủ tục:
- Thứ nhất hồ sơ đăng ký kết hôn:
Theo quy định tại Điều 13 Nghị định 69/2006/NĐ-CP, hồ sơ đăng ký kết hôn bao gồm:
- Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định;
- Giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân của mỗi bên, do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người xin kết hôn là công dân cấp chưa quá 6 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại đương sự là người không có vợ hoặc không có chồng. (Đối với đương sự là người nước ngoài phải căn cứ vào quy định của nước đó về thẩm quyền cấp các loại giấy tờ trên)
Trong trường hợp pháp luật của nước mà người xin kết hôn là công dân không quy định cấp giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân thì có thể thay giấy xác nhận tình trạng hôn nhân bằng giấy xác nhận lời tuyên thệ của đương sự là hiện tại họ không có vợ hoặc không có chồng, phù hợp với pháp luật của nước đó.
- Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc không mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.
- Bản sao có công chứng hoặc chứng thực giấy chứng minh nhân dân (đối với công dân Việt Nam ở trong nước), hộ chiếu hoặc giấy tờ thay thế như giấy thông hành hoặc thẻ cư trú (đối với người nước ngoài và công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài).
- Bản sao có công chứng hoặc chứng thực sổ hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể hoặc giấy xác nhận đăng ký tạm trú có thời hạn (đối với công dân Việt Nam ở trong nước), thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú hoặc giấy xác nhận tạm trú (đối với người nước ngoài ở Việt Nam).

Các Giấy tờ trên được lập thành 2 bộ hồ sơ và nộp tại Sở Tư pháp.
- Thứ hai về thủ tục nộp hồ sơ: Theo quy định tại khoản 3 điều 13 và điều 14 Nghị định số 68 đối với trường hợp kết hôn tại VN hồ sơ đăng ký kết hôn sẽ được nộp tại Sở tư pháp, "khi nộp hồ sơ đăng ký kết hôn, cả hai bên đương sự phải có mặt. Trong trường hợp có lý do khách quan mà một bên không thể có mặt được thì phải có đơn xin vắng mặt và ủy quyền cho bên kia đến nộp hồ sơ. Không chấp nhận việc nộp hồ sơ đăng ký kết hôn qua người thứ ba”.

manhhatuna
26-07-2012, 04:49 PM
Vấn đề bạn hỏi công ty luật đại việt xin có ý kiến như sau:
Việc bạn đi du lịch đến Mĩ hay một nước nào đó ở Đông Nam Á bạn có được đăng kí kết hôn ở các nước đó hay không sẽ tùy thuộc vào pháp luật của nước mà bạn đến và thủ tục đăng kí kết hôn như thế nào cũng tùy thuộc vào pháp luật của các nước. Pháp luật Việt Nam không điều chỉnh việc đăng kí kết hôn ở các nước khác. Tuy nhiên theo quy định tại Điều 20 Nghị định 68 ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đã được sửa đổi bởi Nghị định 69 ngày 21 tháng 7 năm 2006 về việc công nhận việc kết hôn đã được tiến hành ở nước ngoài thì: “Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, phù hợp với pháp luật của nước đó thì được công nhận tại Việt Nam, nếu vào thời điểm kết hôn, công dân Việt Nam không vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn.
Trong trường hợp có sự vi phạm pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn, nhưng vào thời điểm yêu cầu công nhận việc kết hôn, hậu quả của sự vi phạm đó đã được khắc phục hoặc việc công nhận kết hôn đó là có lợi để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em thì việc kết hôn đó cũng được công nhận tại Việt Nam”.
Như vậy trong trường hợp bạn đăng kí kết hôn ở nước ngoài nhưng nếu việc kết hôn đó đáp ứng các điều kiện do pháp luật Việt Nam quy định như trên thì việc đăng kí kết hôn đó của bạn sẽ được công nhận tại Việt Nam