PDA

View Full Version : Hỏi về tranh chấp giữa hôn nhân có đăng ký kết hôn và không có đăng ký kết hôn


tamexim
26-07-2012, 04:34 PM
tôi kết hôn năm 2004 ,có đăng ký kết hôn đúng thủ tục.trước đó chồng tôi có ở với 1 người phụ nữ có 1 đứa con chung với nhau.đến năm 2005 cô ta và chồng tôi về quê cô ta 7 miền tây đăng ký giấy kết hôn để con mang họ cha. đến năm 2007 họ sinh 1 bé gái nửa.đầu năm 2008 tôi phát hiện toàn bộ sự thật .Cuối cùng a cũng quay về với tôi và con.để lại cho cô ta 1 căn nhà và xe nhưng chưa sang tên khi nào con a đủ 18t sẽ sang tên cho con a ! năm đầu tôi có chu cấp tiền nuôi con sau này không .nay tôi muốn mỗi bên nuôi 1 đứa không biết có được tòa chấp nhân không? .. và tờ kết hôn đó có ảnh hưởng gì cho tôi sau nay không ?.. hiên tại cô ta vẫn còn quấy rối cuộc sống vợ chồng tôi.chông tôi muốn thăm con cô ta buột ả phải về sống với cô ta thi mới cho thăm con .từ năm 2008 đến nay chồng tôi và cô ta không còn quan hê nửa vây xin cho hỏi chung tôi phải giải quyết như thê nào.?

hungbaoco
26-07-2012, 04:34 PM
Điều 10. Những trường hợp cấm kết hôn
Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây:
1. Người đang có vợ hoặc có chồng;
Điều 15. Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
1. Bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật này.
2. Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Toà án hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 và Điều 10 của Luật này.
3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 và Điều 10 của Luật này:
a) Vợ, chồng, cha, mẹ, con của các bên kết hôn;
b) Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;
c) Hội liên hiệp phụ nữ.
4. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật.
Điều 16. Hủy việc kết hôn trái pháp luật
Theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 15 của Luật này, Toà án xem xét và quyết định việc hủy kết hôn trái pháp luật và gửi bản sao quyết định cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn. Căn cứ vào quyết định của Toà án, cơ quan đăng ký kết hôn xoá đăng ký kết hôn trong Sổ đăng ký kết hôn.
Điều 17. Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật
1. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên nam, nữ phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.
2. Quyền lợi của con được giải quyết như trường hợp cha mẹ ly hôn.
3. Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thoả thuận của các bên; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con.
Như vậy: Việc kết hôn của chồng bạn và người phụ nữ kia là trái pháp luật, pháp luaatj không công nhận là vợ chồng.
Theo như những quy định pháp luật mà tôi viện dẫn trên, chồng bạn có quyền yêu cầu Tòa án nơi đăng kí kết hôn đó hủy quyết định kết hôn trái pháp luật dó.
-Việc con và tài sản giữa chồng bạn và cô ta giải quyết theo pháp luật về hôn nhân ( nếu không tự thỏa thuận được ) thì tòa án sẽ giải quyết. Nguyên tắc tài sản riêng của ai thì của người đó. tài sản chung chia đôi (Có sự cân nhắc về công sức đóng góp)
- Việc con cái nếu chồng bạn và cô ta đã thỏa thuận là cô ta trực tiếp nuôi dưỡng , thì chồng bạn phải có nghĩa vụ đóng góp.Mức đóng góp nếu k thỏa thuận được thì tòa án giải quyết.
- Việc chăm sóc, thăm nom con cái của chồng bạn là nghĩa vụ và quyền của chông bạn. Pháp luật nghiêm cấm nọi hành vi cản trở.