PDA

View Full Version : Mới làm tờ khai nhưng chưa đăng ký kết hôn có sao không?


hanhphucbichtrang
26-07-2012, 02:52 PM
Em đang sống tại TX Sadec co quen một bạn trai ở TP Châu Thành.Vào đâu năm 2008 chúng e có đi đăng ký kết hôn và có làm tờ khai tại UBND phường 1 TX Sacdec nhưng chưa đăng ký tại Châu Thành.Chúng em chỉ mới làm tờ khai thôi nhưng chưa có giấy đăng ký kết hôn và cũng chưa ra tòa và chưa tổ chức đám cưới. Em gọi lên trung tâm tu vấn pháp luật thì họ nói mới làm tờ khai thôi mà chưa có giấy đăng ký kết hôn thì ko ai công nhân và sẽ tự hủy trong vòng 6 tháng kể từ ngày làm tờ khai.Vậy e muốn hỏi có phải đúng như vậy ko.Nếu ko đúng mà em muốn hủy thì cần làm những thủ tục gì

chyngjeeng
26-07-2012, 02:52 PM
Chào bạn,
Về mặt pháp lý, khi có Giấy CNDKKH rồi thì đã xác lập quan hệ vợ chồng rồi; chứ không cần phải đợi khi làm đám cưới. Và về nơi đăng ký thì chỉ cần đăng ký ở 1 trong 2 nơi cư trú của người nam hoặc người nữ, chứ không bắt đăng ký ở 2 nơi.
Tôi nói rõ hơn về quy định đăng ký kết hôn ở Nghị định 158/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch; theo đó muốn có đăng ký kết hôn thì phải trải qua đủ các bước:
- Thủ tục, giấy tờ nộp: hai bên nam, nữ phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân và các giấy tờ xác được nêu ở Điều 18 ND.
+ Thời hạn giải quyết: 5 (10) ngày
- Đăng ký kết hôn: Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải có mặt. Đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn. Hai bên nam, nữ ký vào Giấy chứng nhận kết hôn và sổ đăng ký kết hôn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên vợ, chồng một bản chính Giấy chứng nhận kết hôn, giải thích cho hai bên về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình

Đối chiếu tình huống của bạn, nếu như chỉ mới nộp tờ khai thì chưa hoàn tất thủ tục, do đó không thể nào cấp GCN DKKH; như vậy bạn vẫn còn là người độc thân.

Cơ sở pháp lý: ND 158/2005, cụ thể là Điều 17, 18:
"Mục 2
ĐĂNG KÝ KẾT HÔN


Điều 17. Thẩm quyền đăng ký kết hôn

1. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiên việc đãng ký kết hôn.

2. Trong trường hợp cả hai bên nam, nữ là công dân Việt Nam đang trong thời hạn công tác, học tập lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, đã cắt hộ khẩu thường trú ở trong nước, thì việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú trước khi xuất cảnh của một trong hai bên nam, nữ.

Điều 18. Thủ tục đăng ký kết hôn

1. Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân.

Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưng đăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó.

Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, thì phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại về tình trạng hôn nhân của người đó.

Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì thủ trưởng đơn vị của người đó xác nhận tình trạng hôn nhân.

Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào Tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định tại Chương V của Nghị định này.

Việc xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày xác nhận.

2. Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy hai bên nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ.

Trong trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 5 ngày.

3. Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải có mặt. Đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn. Hai bên nam, nữ ký vào Giấy chứng nhận kết hôn và sổ đăng ký kết hôn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên vợ, chồng một bản chính Giấy chứng nhận kết hôn, giải thích cho hai bên về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn được cấp theo yêu cầu của vợ, chồng. "