Tôi sinh ,tôi cùng ba người bạn sinh nam 1994,1993.1995 được TTGT việc làm gới thiệu vào làm tại xuỏng nhựa A. nhưng không nhưng giữa chung tôi và xưởng nhụa A không kí họp đông mà chỉ tỏa thuận bằng miệng, nhưng những gì chúng tôi phải làm là khác so với thỏa thuận. chúng tôi phải làm việc
16 tiếng mỗi ngày, 7 ngày một tuần, và chỉ được trả chỉ được trả 2000.000 đồng/ tháng.(khoảng 4200 đồng/giờ)
“Mỗi ngày chúng tôi bắt đầu ngồi làm liên tục từ 8g – 23g đêm theo tốc độ hoạt động của máy. Những khoảng thời gian hiếm hoi được nghỉ tay là giữa buổi trưa và 18g30 (chỉ khoảng 15 phút là cùng). Đó là lúc chúng tôi ăn cơm do chủ phát và mua ít nước trà đá uống cho lại sức để làm ca tiếp theo...Vậy chủ xuỏng nhựa đã vi phạm luật lao động điều mấy và chúng tôi phải thông báo nghỉ việc cho ông chủ trước mấy ngày, chúng tôi có được thanh toán tiền lương làm trong những ngày qua không? nếu như muốn kiến ông ta thì chúng tôi gửi đơn kiên ở đâu? (có nhiều công nhân xin nghỉ nhưng ông ta không cho, vì ông ta đang giữ giấy CMND của họ). cả 3 bốn người bạn chúng tôi chân thành cảm ơn!
eubia
26-07-2012, 10:39 AM
Ơ rê ka,
Theo như lời trình bày của các em trình bày thì tất cả các em đều chưa đủ 18 tuổi – người thành niên. Cho nên, nếu lao động thì các em được áp dụng các quy định về người lao động chưa thành niên.
Theo quy định các em chỉ phải làm việc 42 h/tuần mà thôi; nếu làm thêm thì cũng không quá 4h/ ngày. Cho nên chủ cơ sở này đã vi phạm Điều 69, 122 của Bộ luật lao động. Cho nên họ sẽ bị xử phạt theo Điều 13 nghị định 113/2004 quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động; và nếu có thể thì áp dụng Điều 10 của Nghị định trên để xử lý cũng được “Ngược đãi, cưỡng bức lao động”.
Vấn đề thứ hai, là em không nói rõ thời gian làm ở đó bao lâu nên tôi không có cở khẳng định việc ký hợp đồng theo thỏa thuận miệng là đúng hay sai. Tuy nhiên, nếu dưới 3 tháng thì có thể thỏa thuận bằng miệng.
Chỉ với 2 việc trên cũng khiến chủ xưởng phải “chết” chứ tôi chưa xét đến việc mội trường làm việc độc hại ở xưởng.
Để có thể đòi lại quyền lợi cho mình; tránh t/h các bạn khác cũng bị bóc lột thì các em nên báo việc này cho Thanh tra lao động thuộc Sở lao động thương binh và xã hội. Họ sẽ giúp các em đòi lại quyền lợi.Trong đơn trình bày, các cũng cần đề cập cụ thể chi tiết vụ việc; và nêu rõ là hiện chủ xưởng đang giữ chứng minh nhân dân của các em. Mà tôi chắc các em báo hay không thì tôi tin ông chủ này vẫn thản nhiên chứ chưa nói đến việc trả tiền. Cho nên chờ cho Thanh tra lao động giải quyết trước, nghỉ sau.
Cơ sở pháp lý:
BỘ LUẬT LAO ĐỘNG
Điều 68
1- Thời giờ làm việc không quá 8 giờ trong một ngày hoặc 48 giờ trong một tuần. Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần, nhưng phải thông báo trước cho người lao động biết.
2- Thời giờ làm việc hàng ngày được rút ngắn từ một đến hai giờ đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành.
Điều 69
Người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả thuận làm thêm giờ, nhưng không được quá bốn giờ trong một ngày, 200 giờ trong một năm.
Điều 121
Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khoẻ để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động chưa thành niên về các mặt lao động, tiền lương, sức khoẻ, học tập trong quá trình lao động.
Cấm sử dụng người lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành.
Điều 122
1- Thời giờ làm việc của người lao động chưa thành niên không được quá bảy giờ một ngày hoặc 42 giờ một tuần.
2- Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên làm thêm giờ, làm việc ban đêm trong một số nghề và công việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.
NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 113/2004/NĐ-CP NGÀY 16 THÁNG 4 NĂM 2004 QUY ĐỊNH XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH VỀ HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
Điều 10. Vi phạm những quy định về hợp đồng lao động.
1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong những hành vi sau:
A) Không giao một bản hợp đồng lao động cho người lao động sau khi ký;
B) Vi phạm những quy định về thuê mướn người giúp việc quy định tại Điều 139 của Bộ Luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung.
2. Phạt tiền người sử dụng lao động có một trong những hành vi vi phạm sau: giao kết hợp đồng lao động không đúng loại theo quy định tại Điều 27 của Bộ Luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung; hợp đồng lao động không có chữ ký của một trong hai bên, theo các mức sau đây:
A) Từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 01 người đến 10 người lao động;
B) Từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 11 người đến 50 người lao động;
C) Từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 51 người đến 100 người lao động;
D) Từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 101 người đến 500 người lao động;
Đ) Từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, khi vi phạm với trên 500 người lao động trở lên.
3. Phạt tiền người sử dụng lao động có một trong những hành vi vi phạm sau: áp dụng thời gian thử việc với người lao động dài hơn so với thời gian quy định tại Điều 32 của Bộ Luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung và các quy định hướng dẫn thi hành; vi phạm những quy định về thời gian tạm thời chuyển lao động sang làm việc khác; về việc trả lương cho người lao động trong thời gian tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác quy định tại Điều 34 của Bộ Luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung; vi phạm những quy định về chế độ trợ cấp thôi việc quy định tại khoản 1 Điều 42 của Bộ Luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung, theo các mức sau đây:
A) Từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 01 người đến 10 người lao động;
B) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 11 người đến 50 người lao động;
C) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 51 người đến 100 người lao động;
D) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 101 người đến 500 người lao động;
Đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 500 người lao động trở lên.
4. Phạt tiền từ 15.000.000 đến 20.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong những hành vi sau đây:
A) Ngược đãi, cưỡng bức lao động theo quy định của pháp luật lao động;
B) Bắt người lao động đặt cọc tiền không tuân theo những quy định của pháp luật;
C) Người sử dụng lao động kế tiếp không sử dụng người lao động theo phương án sử dụng lao động quy định tại Điều 31 của Bộ Luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung;
5. Ngoài các hình thức xử phạt quy định tại Điều này, người vi phạm bị áp dụng một trong các biện pháp khắc phục hậu quả sau:
A) Giao lại một bản hợp đồng lao động cho người lao động theo đúng quy định của pháp luật đối với vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này;
B) Tiến hành giao kết hợp đồng cho đúng loại theo quy định của pháp luật; trường hợp không có chữ ký của một trong hai bên thì phải bổ sung chữ ký cho phù hợp đối với vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này;
C) Trả lại số tiền đặt cọc cho người lao động và lãi suất gửi tiền tiết kiệm do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả đối với vi phạm quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;
D) Thực hiện việc sử dụng lao động theo phương án sử dụng lao động đã được phê duyệt đối với vi phạm quy định tại điểm c khoản 4 Điều này;
Đ) Bồi hoàn những thiệt hại cho người lao động khi vi phạm những quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này.
Điều 13. Vi phạm những quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
1. Phạt tiền người sử dụng lao động có một trong những hành vi vi phạm: quy định về thời gian làm việc theo tiêu chuẩn quy định tại Điều 68, Điều 115, Điều 122, Điều 123 và Điều 125 của Bộ Luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung; quy định về thời gian nghỉ giữa ca và giữa hai ca làm việc hoặc vi phạm các quy định về việc nghỉ hàng tuần quy định tại Điều 71 và Điều 72 của Bộ Luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung; quy định về việc nghỉ lễ tại Điều 73 của Bộ Luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung; quy định về việc nghỉ hàng năm quy định tại các Điều 74, Điều 75 và Điều 76 của Bộ Luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung; quy định về nghỉ về việc riêng quy định tại Điều 78 của Bộ Luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung, theo các mức như sau:
A) Từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 01 người đến 10 người lao động;
B) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 11 người đến 50 người lao động;
C) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 51 người đến 100 người lao động;
D) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 101 người đến 500 người lao động;
Đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 500 người lao động trở lên.
2. Phạt tiền người sử dụng lao động có hành vi sử dụng người lao động làm thêm giờ quá thời gian quy định tại Điều 69 của Bộ Luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung, theo các mức như sau:
A) Từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 01 người đến 50 người lao động;
B) Từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 50 người đến 100 người lao động;
C) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 100 người đến 500 người lao động;
D) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 500 người lao động trở lên.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
A) Phải bố trí thời gian nghỉ bù cho người lao động đối với vi phạm tại khoản 1 Điều này;
B) Phải trả lương làm thêm giờ theo đúng quy định của pháp luật cho thời gian vượt quá hoặc làm việc trong thời gian được nghỉ (mà không được nghỉ bù) đối với vi phạm tại khoản 1 Điều này;
C) Bồi hoàn những thiệt hại cho người lao động khi vi phạm những quy định tại Điều này.
vBulletin v3.6.1, Copyright ©2000-2026, Jelsoft Enterprises Ltd.